Thập Thiện (Phần 1)

Đăng bởi Cư sĩ Diệu Mai 3 Tháng Mười Hai, 2017 13:41

Cứu cánh rốt ráo của Đạo Phật là “Vô thủ trước Niết Bàn”. Cảnh giới ấy một khi thành tựu, bậc giác ngộ sẽ đạt được trạng thái “Vô vi nhi vô bất vi” (Nghĩa là không làm, hay vô sự, nhưng không việc chi là không hoàn tất); “Tùy duyên bất biến” (nương theo mọi duyên nhưng tâm giải thoát không hề biến chuyển). Tóm lại nơi “Vô thủ trước Niết Bàn” mọi công đức đều có thể thành tựuTuy nhiên, trong thời gian hành giả tu tập, còn bị kềm tỏa trong vòng “Thủ trước” của “tham, sân, si” thì làm sao thành tựu vô lượng công hạnh khó nghĩ bàn để đến cảnh giới “Vô Ngã”. Phật dạy: “Long Vương! Ví như tất cả thành, ấp, xóm, làng đều y địa đại mà được an trụ, tất cả trăm hoa, cây cỏ bụi rừng cũng nương tựa địa đại ấy mà được sanh trưởng; Thập Thiện Nghiệp đạo cũng lại như thế. Tất cả Nhơn Thiên cũng y vào đó mà được an lập, tất cả Thanh VănĐộc Giác Bồ Đề, các hạnh Bồ Tát, tất cả Phật Pháp đều chung vào đại địa thập thiện này mà được thành tựu.” (Kinh Thập Thiện_HT Thích Hòan Quan dịch). Như vậy, xem ra Thập Thiện là pháp môn căn bản, là thềm thang cho mọi pháp mônHành giả dù có chí mong cầu phước báu hữu lậu ở cõi nhân thiên, hay hướng về vô lậu giải thoát Niết Bàncho đến Vô Thượng Giác, đều phải khởi điểm từ Thập Thiện.

Thập Thiện hay còn gọi là Thập Thiện NghiệpThập Thiện Giới, Thập Thiện Pháp. Tên gọi khác nhau là do tùy cách diễn nghĩa theo các phương diện ứng dụng. Chẳng hạn như khi chỉ nói riêng pháp số thì dùng danh từ Thập Thiện để chỉ cho mười điều thiện bao gồm:

1. Không sát sanh

2. Không trộm cắp

3. Không tà dâm

4. Không vọng ngữ

5. Không ỷ ngữ

6. Không lưỡng thiệt

7. Không ác khẩu

8. Không tham lam

9. Không sân giận

10. Không si mê

Khi hành giả thọ trì mười điều này để tu tập thì có thể dùng danh từ “Thập Thiện Giới” vì khi đó, 10 điều trên đây được xem như “giới”. Xét theo danh tự pháp môn tu thì gọi là “Thập Thiện Pháp”. Căn cứ trên mười pháp thiện ấy để thành tựu phước báu nhân thiên và con đường Thánh Đạo thì gọi là “Thập Thiện Nghiệp”. Để được đầy đủ, chúng ta sẽ xét trên bình diện rộng của Danh tự mà biện giải: Nghĩa là bắt đầu từ phần thích nghĩa từng chi phần Thập Thiện; kế đến là Thập thiện với hình thức giới; phần ba là pháp môn tu Thập Thiện qua sự phân chia của ba nghiệp (thân, khẩu, ý); cuối cùng là thứ bậc tu tậpcủa Thập Thiện (từ sơ khởi cầu phước báu nhân thiên, đến 37 pháp trợ đạo cầu quả Thanh VănLục Ba la mật để thực hành Bồ Tát Đạo cầu Vô thượng giác). Tuy nhiên, vì tính chất tương đồng nên phần Thập Thiện Giới sẽ được giải thích cùng phần thích nghĩa chi pháp (gộp chung phần 1 và 2).

I. “Thập Thiện” và “Thập Thiện Giới”:

Như trên đã nêu qua, Thập Thiện bao gồm mười điều: Không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm(có văn bản dùng từ “không tà hạnh”), không nói dối, không ỷ ngữ, không lưỡng thiệt, không ác khẩu, không tham, không sân, không si. Nhưng xét chi pháp theo Phật Giáo Nam Truyền thì có khác đôi chút như về danh từ như: Bốn chi pháp thuộc về lời là không được nói dối, không được nói đâm thọc, không được nói độc ác, không được nói viễn vong; các chi thứ 8,9,10 là không được tham muốn gắt, không được thù oán, không tà kiến.

1. Không sát sanh: “Sát sanh” là đoạn ngang sanh mạng, dứt ngang mạng sống của kẻ khác. Người không sát sanh thì không được tự cầm khí giới giết, hoặc miệng mình sai bảo ai đó đoạn mạng kẻ khác, cũng không được thấy sự giết hại mà ý mình hoan hỷ (tỏ vẻ hài lòngđồng ý, vui theo việc đó). “Kẻ khác” được đề cập ở đây bao gồm chúng sanh mọi cảnh, như trong văn giới đề cập bao gồm “trên từ Thánh nhânphụ mẫu; dưới cho đến loài bò bay máy cựa vi tế côn trùng”, có thể hiểu là không được đoạn mạng bất cứ một chúng sanh, một cá thể có tình thức nào. Chẳng những không được tự tay, trực tiếp đoạn mạng kẻ khác, mà ngay cả việc dùng phương tiện như đá, bẫy, thuốc độc… hoặc gián tiếp sai sử người làm, hoặc mưu tính đưa kẻ khác vào chỗ chết như xúi chết, bày kế mưu khiến kẻ kia lâm vào thế phải chết, hay bất cứ hình thức gián tiếp nào cũng không được. Thậm chí cho đến nảy sanh ý muốnkẻ kia phải chết, hoặc nghe kẻ kia chết mà khoái ý đều phạm vào ác pháp, tức vi phạm điều thiện thứ nhất. Về mặt giới thì căn cứ trên bốn điều

1. Cố tâm giết

2. Đối tượng giết

3. Phương tiện giết

4. Việc hoàn tất

“Cố tâm” tức là vì sân giận, vì tham quyền lợi, danh vọng, vì oan trái thù hận… nói chung do một động cơ nào đó khiến tâm khởi lên ý nghĩ muốn chấm dứt sự sống của kẻ khác. Như thích ăn một món thịt gà_ ý nghĩ này khởi lên từ tâm tham vị_ dẫn tới tâm muốn giết con gà, cũng từ tâm này thôi thúc nên phải bằng cách nào đó giết con gà kia. Cũng theo thí dụ trên, con gà là “đối tượng” bị giết. Nếu người kia dùng tay giết thì “phương tiện giết” là “nội sắc” tức là dùng tay, chân, thân thể, những gì thuộc nội thân. Dùng đá, cậy, dao… khi ấy phương tiện là “ngoại sắc”. Ở đây “cách thức” cũng kể vào phương tiện như “trực tiếp” (tự tay làm) hay “gián tiếp” (biểu người khác làm). Nếu như con gà mình muốn giết đã bị giết chết rồi, như vậy là điều kiện kết tội đầy đủ, xem như trọn vẹn phạm giới “Không sát sanh”. Tuy nhiênnếu không hội tụ đủ bốn điều trên thì tội kết nhẹ hơn. Chẳng hạn như muốn giết con gà này nhưng lại giết nhầm con khác tức điều thứ ba có phần khuyết, song vẫn có tội, nhưng không kết trọn vẹn. Hoặc phương tiện giết không thành công, con gà bị giết chưa chết thì chưa kết tội trọn vẹn. Nói “trọn vẹn” hay “hay không trọn vẹn” là thay thế chữ “trọng” và chữ “khinh”. Điều này thấy rõ khi đối tượng được thay thế là người. Như vậy, mức độ “trọng” hay “khinh” là còn tùy thuộc vào cấp độ phạm của từng phần đặc biệt là “đối tượng sát”. Chẳng hạn đối tượng là A-la-hán hay cha mẹ thì cực trọng (rơi vào thất nghịch hay ngũ nghịch), còn ruồi, muỗi, sâu, bọ dĩ nhiên là khinh tội. Cố tâm thì tội nặng hơn khi lòng có sự rụt rè hối hận.

2. Không trộm cắp: “Trộm cắp” tức khiến kẻ khác lìa mất vật sở hữu của họ. “Kẻ khác” cũng được kể rộng như trên. “Lìa mất” nêu ở đây tức là đem đi nơi khác, không hoàn trả (trừ trường hợp vì cấp bách, không có chủ nhân khởi ý mượn tạm, hoặc vì thân tình có thể tạm dùng và việc ấy không gây ra sầu, bi, khổ, ưu, não cho chủ sở hữu). Ở đây, đối tượng là vật có chủ, “vật sở hữu” theo văn giới “từ vàng bạcchâu báu cho đến cọng cỏ lá rau, phàm có chủ sở hữu đều không được lấy. Chẳng hạn như con chó có một khúc xương, khúc xương là vật mà chó đang sở hữu, ta đoạt lấy của nó, đây cũng phạm tộ . Chữ “lìa mất” tức là đã lấy đem đi, ở đây phương tiện lấy kết rộng như giới không sát sanh, nghĩa là trực tiếp lấy hay gián tiếp, khiến người lấy, lừa lấy v.v…Đại khái là khởi lên ác tâm muốn chiếm đoạt tài vật của người khác (chúng sanh khác), tìm phương tiện để lấy, việc lấy thực hiện xong, điều kiện kết tội như giới thứ nhất.

3. Không tà dâm: Người tại gia, giới này dùng từ “không tà dâm”, nhưng đối với bậc xuất gia thì “không dâm dục”. Chữ tà chỉ cho việc dâm của người thập thiện không chính đáng, vì tại gia, người tu thập thiện có thể có vợ con cho nên chưa trọn dứt đường dâm dục. Nhưng nếu ngoài người hôn phối của mình ra, người tu thập thiện cùng người khác làm việc dâm dục, đây là phạm vào tà dâmNgoài ra, nếu đối với người hôn phối của mình, việc dâm dục thực hiệnphi đạo (không phải đường), phi xứ (không phải nơi phòng the của riêng vợ chồng), phi thời (không phải thời gian của vợ chồng sinh hoạt), rơi vào ba trường hợp này đều phạm.

4. Không nói dốiNói dối tức là chuyện thấy nói không thấy, không thấy nói thấy, nghe nói không nghe, không nghe nói nghe, biết nói không biết, không biết nói biết, xấu nói tốt, tốt nói xấu, có nói không, phải nói quấy… Dối trá không thật. Người tu thập thiện không được phạm vào. Đặc biệt sẽ kết trọng ở tội “đại vọng ngữ”. Đại vọng ngữ là tu hành chưa chứng tự xưng là mình đã chứng các pháp thượng nhân, pháp các bậc Thánh. Người phạm đại vọng ngữ sẽ sa về tà đạođọa lạc tam đồ, rất nguy hiểm.

5. Không lưỡng thiệtLưỡng thiệt là nói lưỡi hai chiều, tức là nói lời chia rẽ, đến người kia nói xấungười này, đến người này nói xấu người kia, xúi dục bà con bất hòa, thân tình thù oán. Người Việt ta có câu “đòn xóc hai đầu” hay là “đâm bị thóc, thọc bị gạo”. Người tu thập thiện phải tránh nói lời đôi chiều dẫn đến kết quả oan trái giữa người và người, không chỉ riêng lời nói mà ngay cả hành động khiến chia rẽ cũng phạm tội này.

6. Không ác khẩuÁc khẩu là lời nói thô tụcmắng nhiếc, chưởi rủa, nguyền rủa, trù rủa v.v…Thường ác khẩu hay bắt đầu từ sự sân giận, bực tức. Kinh sách có câu “một cơn sân giận đốt cả rừng công đức”. Người tu thập thiện không được nói những lời gây xúc não, thiêu đốt tâm thức người khác mà ngược lại phải nói lời “ái dưỡng tâm thức”.

7. Không ỷ ngữỶ ngữ là nói lời vô nghĩa lý, lời nói ủy mị khiến người điên đảo tâm hồn, chẳng còn phân biệt thị phi, nhiều khi đưa đến tán gia bại sản hoặc gây ra tội lỗi. Ví dụ như thầy của Ương Quật Ma La dụ bảo đệ tử mình rằng: Nếu giết đủ 1000 người sẽ có sức mạnh vô songthành tựu thượng pháp của ông dạy, kết quả là Ương Quật Ma La đã đón đường giết 999 người, may nhờ Phật độ giải thoátnếu không ngay cả người mẹ mình, Ương Quật cũng không chừa. Ỷ ngữ thường bắt đầu bằng lòng ghanh tị, tật đố, ý muốn hại người và sắp bài âm mưu bịp người khiến họ tự sa vào đường dữ. Lắm khi ỷ ngữ bắt đầu từ sự hoang tưởng, ngu tối, người nói cũng không rõ mình nói việc như thế hậu quả sẽ đi về đâu. Người tu thập thiện phải nói hợp với Phật Pháp, không vì lợi mình hay tật đố mà bịa chuyện hại tha nhân.

8. Không tham: Tham đây nói đủ là tham dục. Chữ dục chỉ cho các món ngũ dục trong nhân gian gồm: tài, sắc, danh, thực, thùy (tài lợisắc áidanh vọngăn uống, ngủ nghỉ). Khi hành giả đối diện với năm món dục trên, tâm cuốn hút theo, lòng muốn hưởng thụ nên tìm cách thủ lấy, vì muốn đạt được những gì mình yêu thích, đôi lúc không từ thủ đoạn, dẫn đến tội lỗi. Do đó, đối với ngũ dục phải giữ tâm mình không được đắm trước vào.

9. Không sân: Đối với cảnh vừa ý thì sanh tâm tham như trên đã nêu, ngược lại đối với những gì mình không ưa, trái ý liền sanh tâm chán ghét, sân giận. Kinh nói: “Nhất niệm sân tâm khởi, bát vạn chướng môn khai”. Niệm sân cội gốc sâu xa nơi cố chấp ngã và ngã sở. Vì yêu quí tự ngã, tất cả vun vén cho tự ngã, coi tự ngã là tối thượng, là trung tâm điểm của vũ trụ nên một sự kiện, một sự vật nào trái với sự yêu thích của tự ngã khiến bạn nổi lên cơn sân giận. Pháp Phật thành tựu nơi vô ngã, do đó ngã chấpcàng kiên cố, sân niệm càng cao; sân niệm càng cao càng khó xả ngã. Ngoài ra, vì sân giận sẽ tạo ra nhiều ác nghiệp khác khiến đọa lạc vào ba đường khổ. Người tu thập thiện phải kiểm soát tâm mình ra khỏi các niệm sân.

10 Không si: Chữ “Si”, theo như Phật giáo Nam truyền chỉ cho “Tà kiến”. Nếu dùng chữ ngu si thì có thể hiểu lầm là sự ngu dốt, không biết gì, do đó không đủ nghĩa bằng khi dùng chữ “Tà kiến”. Nếu như một người hiểu biết rộng rãiquảng bác kiến thức nhưng lại không tin nhân quả thì chẳng qua là hàng “thế trí biện thông”, như vậy, dù không ngu si nhưng cũng không hiểu được thế nào là Phật pháprốt cuộc rơi vào thường kiến hoặc đoạn kiến, sa vào tam đồ ác đạo. Người tu thập thiện, phải hướng đến trí huệ giải thoát, thân cận bậc thượng nhân, bậc Thánh, hoặc Thánh đệ tử để hiểu được chân thiện pháp.

(Xem tiếp phần 2 tại đây)

Tác giả: Thích Nữ Hạnh Giải

Nguồn: Thư viện Hoa Sen

 

BÀI VIẾT GẦN ĐÂY

DƯƠNG LỊCH

tháng tám, 2020

Sắp đặt theo

Hai

Ba

Năm

Sáu

Bảy

CN

-

-

-

-

-

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

14

15

16

17

18

19

20

21

22

23

24

25

26

27

28

29

30

31

Không có sự kiện

SỰ KIỆN PHẬT GIÁO

tháng tám, 2020

Sắp đặt theo

Không có sự kiện