Thập Thiện (Phần 2)

Đăng bởi Cư sĩ Diệu Mai 3 Tháng Mười Hai, 2017 13:42

(Xem phần 1 tại đây)

II.Pháp môn tu Thập thiện

Mười chi pháp nêu trên được chia ra ba phần tương ứng với ba nghiệp thân, khẩu, ý. Không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm là ba điều thiện thuộc thân nghiệp. Không nói dối, không lưỡng thiệt, không ác khẩu, không ỷ ngữ thuộc về khẩu nghiệp. Không tham, không sân, không si thuộc về ý nghiệp. Luận về nghiệp báovô lượng tội lỗi đều nương nơi thân khẩu ý mà tạo tác. Do đó, tu thập thiệnlà pháp môn diệt tội lỗi nơi thân, khẩu, ý. Khi thành tựu pháp môn rồi lúc đó gọi là “Tam nghiệp thanh tịnh”. Xét như trên đã nêu về giới, Thập thiện giới cũng coi như là pháp môn tu, Nhưng nếu giới đã nêu lên sự tu tập, không cần luận bàn thêm về pháp môn tu! Bây giờ, nêu Thập thiện pháp như là pháp môntu tập, như vậy có sự khác biệt nào ở đây? Khác ở nơi phần trên là phân biệt về giới, còn phần này sẽ phân lập ra thân, khẩu, ý để trình bày. Trong đó chia chẻ trình bày nhân tu và quả thành tựu như là một pháp môn hẳn hòi.

1. Thân nghiệp:

Không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm.

— Không sát sanh: Như trên đã nêu về giới, phàm hễ chúng hữu tình có sanh mạng không được đoạn dứt. Quả báo của tội sát sanh là: Hiện đời người ta chán ghéthọ hàng, muôn thú ghê sợ (đây là hoa báo). Quả báo rơi vào ba ác đạo. Dư báo các đời sau sanh lên thường bị giết hại, mạng yểu. Ngược lại, người không sát sanh sẽ được cuộc sống an ổn, không phải lo sợ về hoạnh tử, oán hại, tuổi thọ các đời sau lâu dàiSơ cơ tu tập bất sát có thể còn gặp nhiều khó khăn như khó khăn về nghề nghiệp: Người làm ruộng phải giết sâu bọ, người đang làm nghề chày lưới; khó khăn về quốc nạn: Vì ngoại xâm, binh biến, người ra chiến trường phải giết giặc…Do đó, người lập nguyện tu tập phải biết khéo tìm môi trường thuận lợi, khéo hộ trì các căn để không thấy, không nghe việc giết chóc, sân giận dẫn đến giết, tránh việc thấy giết mà vui theo. Dần dần phước đứccông đức do trì giới bất sát thành tựu, khi đó sẽ đạt đến trạng thái “nhậm vận tự nhiên bất sát”, như bậc thánh quả Tu Đà Hoàn cuốc đất côn trùng sẽ tự cách bốn tấc. Khi đó quanh ta khí sát cũng tiêu tán dần khiến cho muôn thú không sợ, người khác không sợ bị ta làm hại, trường hợp này cũng giống như chuyện các vị Tổ sư trong Phật giáo vào núi rừng tu tập, voi, hổ, báo, chim chóc đến ở gần bên nghe thuyết pháp. Muôn thú không sợ người, cũng không làm hại người; ngược lại, người không sợ muôn thú và cũng không có ý sát hại.

— Không trộm cướp: Tiền bạc, của cải đôi lúc người ta xem trọng như sinh mạng của họ. Nhân giancó câu: “Đồng tiền là núm ruột”, của cải vật chất cũng vậy, nên khi bị tước đoạt mất, người ta đau khổtưởng chừng như mạng sống bị đoạn dứt. Lắm khi anh em trong nhà chỉ vì tranh giành của cải mà xô xát, hại nhau. Tài vật đối với lòng tham của con người ảnh hưởng rất lớn! Quả báo của hành động cướp đoạt là: Đời này bị pháp luật ràng buộcgia hìnhhọ hàng khinh khi xa lánh vì sợ bị mất của; tội báo đời sau bị đọa vào địa ngụcác thú phải thường chịu đói lạnh. Nhiều kiếp lâu sau mới được sanh làm người, dư báo luôn bị đói khát, nghèo cùng khốn khổ.

Người tu thập thiện hiểu được sự nhiệt não do lòng tham đem lại, thấu hiểu nỗi đau khổ của sự mất mát, và quả báo nguy hiểm của sự cướp đọat, do đó phát nguyện giữ gìn giới hạnh không tước đoạt tài sản người khác, chúng sanh khác. Sơ phát tâm tu tập giới này không khó như giới bất sát, tuy nhiênhành giả phải có nhẫn lực cao, ý chí lớn. Vả như nhiều đời nhiều kiếp hành giả chưa từng bố thí, nay rơi vào trạng huống quá cùng khổ, kẻ nghèo khổ lại dễ làm càn: “Bần cùng sanh đạo tặc”. Nhưng hành giả thủ tâm bền chí tu tậpcam chịu đói nghèo, không vì đói khổ mà xâm đoạt của phi nghĩa để sinh tồn. Khi giới thành tựuphước báo là tài sản không bị cướp bócxâm đoạtTuy nhiên, giới này phải chỉ tròn vẹn khi tu tập chung với giới về ý là “không tham”, tiến lên cấp bậc cao hơn: chẳng những không tham, không cướp đoạt mà còn bố thí, như vậy mới trọn vẹntrở thành một người có phước đức lớn, không bao giờ đói nghèo. Cao hơn là thành tựu được thất thánh tàitùy tâm mãn nguyện.

— Không tà dâmDâm dục là nhân sanh tử luân hồi. Vì luyến ái, người ta phải nhiều đời nhiều kiếp ra vào thai mẹ, chịu khổ trong sáu đường. Người tại gia chưa dứt hẳn đường dâm dục, có thể do còn luyến ái, hoặc phong tục tập quán dân tộc hay gia đìnhgia tộc ràng buộc phải sống trong đường chồng vợ, do đó tâm phải giữ cho đoan chánh, lòng nghĩ việc kia như là bổn phận trách nhiệm, không coi đó là lạc thú để đắm trước vào. Với người hôn phối của mình, việc thọ lạc còn coi như là khổ hình, huống chi lại đi tìm thú vui ở người khác. Luận về tội ngoại tình hay mua bán xác thịt và những tội lỗi tương tựnhân gian người ta xem như là điều đáng kinh tởm. Lỗi này dẫn đến việc tan nhà nát cửa, chồng vợ nghi kỵ, lìa xa nhau, có khi vì ghen tuông mà hại mình hại người… Do đó người tu thập thiện phải phát nguyện thanh tâm chánh trựcQuả báo đời này là pháp luật gia hìnhhổ thẹn, nhục nhã. Đời sau thác sanh nơi ngục ô uế, sanh vào loài bồ câu uyên ương. Dư báo làm người sẽ bị phản bội, người yêu thương xa lìa, nghi hiềm v.v…Trọng tâm của việc tu thiện giới này là xa lìa tâm đắm ái. Gẫm chúng sanh nhiều đời kiếp oan tình theo nhau, khi thì làm cha mẹ, khi thì vợ chồng, lúc anh chị em, thân bằngquyến thuộc, cho nên lúc câu sanh một nơi, người thân tiền kiếp dễ sanh tơ tình, từ đó đưa đến việc ràng buộc tâm tư, tìm đến với nhau, kẻ nối lại thân tình, người thì sanh oan trái… rốt cuộc tạo ra nhiều ác nghiệpSơ phát tâm vì nghiệp duyên ái tình còn nặng, hành giả không khỏi khổ lụy đảo điên, hoặc bị quấy phiền, nhưng nếu tâm tư trong sáng, tình không nơi chiêu cảm, dần dà qua nhiều kiếp đời phôi pha sẽ được tự tại, không còn bị duyên tình quấy nhiễuPhước báo của người trì giới này thân tâmsáng sạch, thanh tịnh, người trời, chúng sanh thấy đều yêu thích.

Kết lại: Ba giới này xếp về sự tu hành thân nghiệp, giữ thân nghiệp thanh tịnh. Trọng điểm ở đây là thân không làm ác. “Ác pháp” chỉ cho sự gia hại tha nhân (chúng hữu tình khác). Gia hại ở đây chính là sự xâm đoạt: Đoạt mạng là sát sanh, đoạt của cải là trộm cướp, đoạt tình là tà hạnh. Như vậy, đối với chúng sanh hành giả tu “thân nghiệp thanh tịnh” sẽ không có bất kỳ hành động xâm đoạt nào tổn hạiđến tính mạngtài sản, tình cảm của họ. Quả báo đối đãi ở đây là chúng sanh sẽ được sống yên ổn, đầy đủ sự tin tưởng bên hành giả, ngược lại hành giả cũng không bị phiền nhiễurắc rối hay đau khổkhi không gây ác nghiệpTóm lại là thành tựu “thân thiện nghiệp”.

2. Khẩu nghiệp:

Không nói dối, không lưỡng thiệt, không ác khẩu, không ỷ ngữ.

Về cách phân tích từng chi phần cũng tương tự như thân nghiệp. Ở đây chỉ cần nói chung về nhân quảphước báo trì giới và thành tựu bốn thiện giới về khẩu.

Với việc nói dối khiến chẳng phân biệt được phải trái, làm cho người nghe đảo điênnghi kỵ, tin nhầm dẫn đến nhiều hậu quả khó lường. Quả báo việc này là bị tội đọa sanh vào địa ngục hắc ám, dư báo sanh vào loài cầm thú ngu muội, sanh vào loài người cũng ngu si mê muội… Nói lưỡng thiệt (gây chia rẻ) dẫn đến thân bằng quyến thuộc chia lìa, nghi kỵ hiềm khích lẫn nhau, quả báo thường rơi vào địa ngục canh thiệt (kéo lưỡi trâu cày như trong kinh Địa Tạng diễn bày), đến khi được sanh làm người, dư báo khiến rơi vào cảnh quyến thuộc chia lìa, kình chống lẫn nhau…Ác khẩu khiến người sanh tâm nhiệt não oán hờn không dứt, dân gian thường vì câu nói ác mà “sống để bụng, thác mang theo”. Vì nhân gieo sự oán hận cho người nên tội báo cũng sa vào địa ngục, hoặc sanh vào loài quỉ miệng thường phát ra mùi hôi thúi, thân thể ghê gớm, xấu xí. Đến khi hết tội hình trong ác đạo, sanh vào loài ngườicũng trong thân hình xấu xí, môi hở, răng xiêng vẹo… Nói lời ủy mị, khiến người hoang tưởng mơ hồ,thêu dệt chuyện không đâu, làm cho người nghe mất tín tâm, mất chánh niệmtội báo tương tự cũng sa vào chốn ngục tối tăm, khi được sanh vào loài người cũng đảo điên, mờ tối…Tất cả các tội nghiệp do khẩu gây ra, nếu đối với Tam bảo thì tội càng nặng hơn muôn vạn lần, như việc nối dối với Bậc Thánh, ác khẩu hủy báng tam bảolưỡng thiệt phá hòa hợp tăng như vậy tội sẽ kết vào một trong ngũ nghịchhoặc thất nghịch, sa vào A-tỳ ngục.

Người tu thập thiện, trước ý thức tội lỗi do khẩu gây ra, sau phát nguyện tu hành giữ bốn giới về khẩu. Phước báo sẽ được quyến thuộc thương mếnlời nói ra được nhiều người tin tưởng. Có những bậc tu thành tựu giới này, lại hay khéo dùng lời khuyến khích người tu trì tin tấn, tụng kinh Đại thừa như Diệu Pháp Liên Hoa, miệng người đó thường tỏa mùi thơmchư thiênquỉ thần kính tin hộ vệ.

_Kết lại: Bốn giới kế tiếp là thành tựu sự thanh tịnh về khẩu. Tu tập tránh nhân ác do lời nói đem lại. Lời nói có ác có căn bản có bốn: dối trá, đâm thọc, ác độc, xảo ngụy. Tuy nhiênhành giả cần tìm ra điểm quan trọng bắt nguồn nhân tội lỗi của khẩu, cũng như ác nghiệp về thân, ác nghiệp về khẩu căn cứ trên sự gia hại, từ lời nói tác động vào tâm tư người: Nói tác động tâm tư khiến người mờ mịt về mình (dối xưng là bậc thánh) hay về người khác, sự vật khác, khiến người không phân biệt phải trái là dối; nói tác động tâm tư khiến chia rẽ là lưỡng thiệt; nói tác động khiến người đau khổ là ác khẩu; nói tác động tâm tư khiến người mất chánh niệm đảo điên mờ mịch là ỷ ngữ. Như vậy, điểm quan trọng khi tạo ác nghiệpvề miệng là dùng lời tác động vào tâm tư để đưa đến một kết quả tồi tệ cho người khác. Hiểu rõ điều này, hành giả tu “khẩu nghiệp thanh tịnh” sẽ ngăn dè, cẩn trọng lời nói, chỉ nói lời nhu hòa, lời tốt đẹpđem lại lợi ích cho tha nhân. Không vì bất cứ lý do nào nói ra lời gây oan trái, chia rẽ, tổn hại đến tâm tư, công việc của người khác, chúng sanh khác. Như vậy là thành tựu “khẩu thiện nghiệp”

3. Ý nghiệp:

Không tham, không sân, không si (không tà kiến).

Tham sân si là tam độc, là cội gốc phát khởi mọi tội lỗi. Phàm khi người ta nhấc chân, cử tay thảy đều lấy ý làm đầu: “ý dẫn đầu các pháp, ý làm chủ ý tạo”, chính ý tạo nhân chủng cho ngã chấpluân hồiNếu không có ý làm chủ, không tác thành nghiệp nhân được, chỉ là cây khô, sỏi đá mà thôi. Người tu thập thiện, nếu muốn mình có lộ trình tốt đẹp cho mai hậu, phải bắt nguồn từ nơi ý, ở nơi ý này, nếu muốn ngăn chặn và lìa được tham, sân, si, hành giả phải luôn tỉnh giácý thức được diễn biến tâm tư mình trước sự việc. Tu tập ý không tham, không sân, không si để thành tựu “ý thiện nghiệp”. Tại sao ở đây không dùng “ý nghiệp thanh tịnh”. Vì ý quyết định rất lớn đến cảnh giới tái sanh hoặc không tái sanh, nếu còn tái sanh, coi như thành tựu thiện nghiệp về ý, thanh tịnh từng phần. Còn nói rốt ráo thanh tịnh, theo Duy thức học, A-lại-da sẽ chuyển thành Bạch tịnh thức nghĩa là thành tựu “tuệ giải thoát”. Tu tập thiện nghiệp về ý đạt đến rốt ráo, điều này sẽ được khai triển trong phần III.

Kết lạïTu tập thiện nghiệp về ý là căn bản để thành tựu cả thiện nghiệp về thân và khẩu. Sở dĩ có thân ác nghiệp, khẩu ác nghiệp cũng bắt đầu từ tham ý, sân ý, si ý mà ra. Song hành giả cũng cần ý thứctrọng điểm để dẫn đến sai phạm. Vì sao có tham khởi, sân khởi, si khởi. Tất cả từ sự sai lầm chấp cóbản ngã, vì có bản ngã sanh ngã sở, từ ngã và ngã sở đó sanh ngã ái, do ngã ái khống chế nên những gì tự ngã yêu thích sẽ khởi ý thủ lấy khiến tham sanh, những gì trái lại ngã ái khiến sân sanh, và ý niệmlưu trữ một cái ngã tồn tạigìn giữ vun vén đó là tà kiến hay là si. Hành giả tu tập ” ý nghiệp thanh tịnh” phải luôn tỉnh giác chân lý “vô ngã”, nếu không đạt đến kiến tri vô ngã, việc tu hành thân thiện nghiệp, khẩu thiện nghiệp cũng có thể thành tựu, nhưng chỉ đạt phước báu nhân thiên và có thể hoàn thành ý thiện nghiệp, nhưng chưa đi đ?n chỗ “ý nghiệp thanh tịnh”.

III. Thứ bậc tu tập:

Thông thường, tu pháp thập thiện được đa số Phật tử nghĩ như là một pháp môn cầu phước báu sanh thiênThực chất như phần trên đã nêu: “Ví như tất cả thành, ấp, xóm, làng đều y địa đại mà được an trụ, tất cả trăm hoa, cây cỏ bụi rừng cũng nương tựa địa đại ấy mà được sanh trưởng; Thập Thiện Nghiệp đạo cũng lại như thế. Tất cả Nhơn Thiên cũng y vào đó mà được an lập, tất cả Thanh VănĐộc Giác Bồ Đề, các hạnh Bồ Tát, tất cả Phật Pháp đều chung vào đại địa thập thiện này mà được thành tựu.” Nghĩa là Thập thiện là pháp môn căn bản để thành tựu vạn hạnh từ thấp lên cao, từ địa vị nhân thiên đến Thanh VănDuyên GiácBồ Tát và Phật Đạo. Vì sao pháp này lại đặc thù như vậy? Trước tiên chúng ta cần tìm hiểu qua cách lập phápGiáo lý trọng điểm tu tập của Phật giáo đều y cứ theo nhân quả, như Tứ Thánh Đế lập pháp trên nhân quả thế gian và xuất thế gian: Khổ, Tập là nhân quảtrong Tam giới luân hồi; Diệt, Đạo là nhân quả của xuất thế gianThập Thiện, nói đủ là Thập Thiện Nghiệp Đạo, nghĩa là con đường hạnh nghiệp căn cứ trên mười điều thiệnCon người đối với thân, khẩu, ý gây ra vô lượng vô biên điều ác, tuy nhiên tổng quát phân chia không ngoài mười chi phần: ba chi thuộc về thân (sát sanh, trộm cướp, tà hạnh), bốn chi thuộc về khẩu (vọng ngữlưỡng thiệtác khẩuỷ ngữ), ba chi thuộc về ý (tham, sân, si hay tà kiến). Ngược lại mười điều ác là mười điều thiện, tất cả đều y cứ theo nhân quả! Tạo mười ác nghiệp nặng thì rơi vào tận cùng địa ngục trong nhiều kiếp, nhiều ngàn kiếp v.v… nhẹ thì rơi vào ngạ quỉ súc sanh, hay làm loài người trong tư thái thấp hèn. Ngược lại với mười điều ác là mười điều thiệnCăn cứ vào nhân quả, tu mười điều thiện thành tựuphước đứccông đức theo thứ bậc như sau:

Sơ tâm tu tập, chỉ ngăn dứt mười điều ác, hiện đời (hoặc đời sau sanh vào cõi người) sẽ được hạnh phúc an vui tương ứng với nhân quả như sau:

1. Không sát sanh: Thân thường không bệnh, mệnh sống lâu dài, thường được phi nhân (quỉ thầnủng hộ, thường không ác mộng thức ngủ an vui; oán nghiệp được tiêu trừ, oán thù tự giải; không sợ sa vào ba đường dữ.

2. Không trộm cướpGiàu có của cải, không bị năm thứ cướp hại (vua quan, giạc, nước, lửa, con hư). Nhiều người thương mến, không bị người phụ bạc, lừa gạt. Mười phương khen ngợi, tiếng lành đồn khắp. Không lo bị tổn hại, vào nơi đông người không sợ hãihổ thẹn.

3. Không tà dâm: Các căn điều thuận, xa lìa sự rộn ràng, người đời khen ngợi. Vợ (hay chồng) không ai xâm phạm, cũng không phụ bạc.

4. Không vọng ngữ: Được người đời tín phục. Miệng thường tỏa mùi thơmLời nói tín chứng, người trời tín phục. YÙ vui thù thắngtâm không chao động.

5. Không lưỡng thiệt: Thân bất hoại, không ai làm hại được. Bà con bất hoại, không bị chia rẽ. Tâm lực tu kiên cố, lòng tin bất hoại. Được bằng hữu tốt, thiện tri thức tốt, không lừa dối nhau.

6. Không ác khẩuLời nói hợp lýđẹp đẽ, có ích lợi. Người nghe sanh lòng vui, tin tưởng, không chê bai.

7. Không ỷ ngữThành tựu như thật tríđối đáp biện tài, có oai đức tối thắng với nhân thiên, không hư vọng.

8. Không thamBa nghiệp tự tại, các căn đầy đủ. Của cải tự tạiđáp ứng mong cầu, oán tặc không cướp đoạt được. Đuợc phước báu thù thắng.

9. Không sân: Trong lòng không bị tổn não, sân hận, kiện tụng. Tâm nhu hòa, khí sắc tươi nhuận. Người không oán ghét, cảm thấy an lạc khi đựơc sống gần hành giả.

10. Không si: Trực tâm chánh kiến, xa hẳn sự ngờ vực kiết hung. Thâm tín nhân quả, thà bỏ mạng chứ không làm điều ác. Được gần gủi thiện tri thứckiến giải vô ngạiDuy nhất qui y Phật, không lạc ác đạo.

Sau khi mãn thân này, sẽ được sanh thiên. Phước được sanh thiên hầu như là pháp ấn định của Thập thiện nghiệp, do đó chư Phật t? thường nghĩ “muốn sanh thiên, tu theo thập thiện”. Tuy nhiên, điều này không hẳn như vậy. Người tu thập thiện phước báu lớn, có thể sanh thiên, nhưng cũng có khi sanh vào cõi người hoặc các cõi khác tùy nguyện lực của mình. Thành tựu ấy thuộc phước báu. Nếu hành giảtrong quá trình tu tậplập công bồi đức theo Thánh ĐạoThanh VănBồ Tát và Phật Thừa thì nhân quảsẽ chuyển theo hướng khác. Khi đó, thân, khẩu thanh tịnh nhiếp về giới; ý nghiệp nhiếp về định; giới định thành tựu, tuệ sanh. Đây là con đường tu tập Tam vô lậu học.

aThanh Văn ThừaHình thức tu Thập Thiện kết hợp với 37 phẩm trợ đạo (Tứ niệm xứtứ chánh cần,tứ như ý túcngũ cănngũ lựcbát thánh đạo phầnthất bồ đề phần). Dùng niệm xứ để thanh tịnh tâm, tiến đến “Niệm xứ quán” tức là nhiếp tâm và quán tâm. Như vậy, hành giả sẽ thanh lọc tâm tư, nâng mức độ tỉnh giác của mình lên. Khi tỉnh giáchành giả dễ dàng pháp hiện để dẹp bỏ những bất thiện ý sanh khởi, và ngăn chặn khiến ý bất thiện không sanh, trãi nghiệm qua Tứ chánh cần. Từ đó tiến dần lên tứ như ý túc: Lúc này mức độ định tâm và chánh kiến đã ổn định. Ngang đây có thể khai triển “Dục như ý túc” để hướng đến con đường Phật ThừaBồ Tát Đạo, hay tiếp tục tu theo Thanh Văn Pháp. Nếu tiếp tục theo pháp Thanh Văn, nương trên mảnh đất định, phát triển tín cănthúc đẩy niệm lực (giai đoạn tu ngũ cănngũ lực) để thành tựu Thiền định, hoặc sử dụng trạch pháp để đi theo thiền quán. Ở đây cần phải có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa định và quán (nghĩa là kết hợp tất cả các chi phần của 37 trợ đạo phẩm để bổ trợ nhau), vì “Định không tuệ thì thành khô định, tuệ không định thì thành cuồng tuệ”. Rốt ráo sẽ thành tựu “ý thanh tịnh”, tức giải thoátNiết Bàn.

b. Bồ Tát thừaTu thập thiện kết hợp với Lục độ để cầu Vô thượng giác. Khi này, giới được triển khaitích cực như trong Bồ Tát Giới. Sự kết hợp tu tập có thể trình bày theo như văn kinh Thập Thiện:

1. Bố thí độ: Chẳng những không sát sanh mà còn khởi lòng thương chúng sanh như con đỏ, đem lòng từ hộ độ mạng khiến được an vui, đây là bố thí vô úyBồ tát chẳng những không trộm cắp mà còn đem vàng bạccủa báu bố thí cho khắp tất cả, cho đến bố thí vợ con, đầu mắt tai chân để cầu Phật đạo. Nhưng muốn bố thí viên mãn như vậy, phải lìa tham dụctham ái. Điều này đã hoàn thành ở chi phầnthứ 9 (không tham) khi hành giả tu Thập Thiện. Vì bỏ tà hạnh, lìa gian dối, không tham sân…mà bố thínên khiến người tin tưởng, không phải uổng phí lời vẫn có thể thu phục nhân tâm…(phỏng trích theo văn Kinh Thập Thiện)

2. Lược nói năm độ sau: Trì giới trang nghiêmthập thiện đã hoàn thành thân, khẩu thanh tịnh, nay tu tập Bồ tát hạnh, phần trì giới sẽ nhẹ nhàng hơn. Tuy nhiên, bên Bồ tát, không những giữ gìn không tổn hại chúng sanh mà còn phải cứu độ để cho chúng sanh không bị tổn hại về thân mạngtài sảntinh thần. Do đó, khi tu thập thiện, không làm điều ác tức là đã giữ giới, nhưng tiến lên Bồ Tát hạnhgiữ giớikhông những là không phạm điều ác, mà còn phải đem cả thân mạng ra làm điều thiện, xả thân để đem lại hạnh phúc cho chúng sanh, khiến chúng sanh được độ tới chỗ an vui, như vậy mới xem là trì giớitrong lục độ. Theo Bồ Tát hạnhtinh tấn độ sẽ dẫn đầutinh tấn hành bố thítinh tấn giữ gìn giới, tinh tấn tu tập thiền địnhtinh tấn trao dồi, mở mang trí huệ. Người muốn thực hiện được các điều khó ấy, phải có nhẫn lựcý chí. Như vậy, tinh tấn và nhẫn nhục là hai pháp thiết yếu căn bản để hoàn thành bốn pháp còn lại. Muốn thành tựu nhẫn lựcý niệm về cái tôi kiên cố phải từ bỏngã ái phải từ bỏ, điều này phải thành tựu nơi giới thứ 10 (không si, tức không tà kiến) của Thập Thiện.

Kết lại: Lấy Thập Thiện làm thềm thang, làm giá đỡ để tiến lên Bồ Tát Hạnh, khi đó, nhờ phước báu sẵn tạo, công đức tu hành dễ dàng tiến triển hơn và nâng cao hơn. Chẳng hạn như không trộm cắp sẽ không bị tổn hại, khi không bị tổn hại thì lòng sân không khởi, khi đó đem lòng nhu hòa bố thí sanh phước báu lớn. Từ đó, chuyển sang đời sau Bồ Tát sanh vào nơi sang giàu, lại lấy lòng bố thí trợ giúp người làm niềm vui, khiến lòng từ sanh khởi và phát triển.v.v… Các chi phần khác cũng vậy. Do đó nói Lục độ cũng hoàn thành từ nơi Thập Thiện.

 

Tóm lạiThập Thiện không phải chỉ riêng là pháp môn tu cầu phước báu cõi trời như bao nhiêu người thường tưởng, mà Thập Thiện là pháp tu của tất cả mọi hành giả từ việc cầu phước cõi người, trời cho đến tu Thanh VănBồ Tát và cầu Vô Thượng Bồ ĐềChúng sanh vì mang ý niệm có một cái “tôi” tồn tạinên trôi lăn sanh tử luân hồi, lại trong luân hồi thấy mình nhỏ bé đối với Tạo Hóa nên tìm cầu nương tựa nơi ở một đấng Tạo hóa tối cao nào đó v.v…Vì ngã tưởng sai lầm đó mãi chịu khổ đau. Khi hiểu được Thập Thiện Pháp, thấy rõ được sự khổ vui trong cõi hữu vi đều đi theo một luật tắc nhất định, đó là “nhân quả”. Khi đó thừa hiểu phước tội do mình, làm thiện hưởng thiện, làm ác chịu quả ác. Đó là nói hành giả chưa thấu triệt lý vô ngã, chỉ tin nhân quả nên tìm hạnh phúc cho mình bằng cách gieo nhân lành. Đến khi thấu hiểu “Vạn pháp giai không” , tất cả đều giả huyễn: “Không phải của tôi, không phải là tôi, không phải là tự ngã của tôi”, chừng đó khởi tâm cầu giải thoátxa lìa tham, sân, si cầu thanh tịnhgiải thoát. Khi đó tu tập ba nghiệp trọn thanh tịnh:

“Tam nghiệp hằng thanh tịnh

Đồng Phật vãng Tây Phương”

Tuy nhiên, muốn thân khẩu thanh tịnh, tuy có khó nhưng vẫn dễ hơn nhiều so với thành tựu ý thanhtịnh. Song nếu đã đạt được ý thanh tịnh rồi, hành giả có nói nín động tịnh gì cũng là “Vô tác nghiệp”, nghĩa là: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành”./.

Tác giả: Thích Nữ Hạnh Giải

Nguồn: Thư viện Hoa Sen

BÀI VIẾT GẦN ĐÂY

DƯƠNG LỊCH

tháng tám, 2020

Sắp đặt theo

Hai

Ba

Năm

Sáu

Bảy

CN

-

-

-

-

-

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

14

15

16

17

18

19

20

21

22

23

24

25

26

27

28

29

30

31

Không có sự kiện

SỰ KIỆN PHẬT GIÁO

tháng tám, 2020

Sắp đặt theo

Không có sự kiện